“Soi” các chỉ tiêu về an toàn vốn của hệ thống ngân hàng

Thông tư 19 ban hành vào ngày 28-12-2017 đã có một số sửa đổi, bổ sung cấu phần và cách xác định cấu phần vốn tự có, hệ số rủi ro của một số khoản phải đòi khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.

Theo báo cáo thống kê tháng 5-2018 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của khối ngân hàng thương mại nhà nước là 9,39%, trong khi của khối ngân hàng thương mại cổ phần là 11,34%.

ty-le-an-toan-von

Tổng tài sản của toàn hệ thống tăng

Thống kê mới nhất của NHNN về một số chỉ tiêu cơ bản của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) cho thấy, đến cuối tháng 5-2018, tổng tài sản của hệ thống đã vượt 10,3 triệu tỉ đồng, tăng 3,27% so với cuối năm 2017. Trong đó, 45% tổng tài sản toàn hệ thống nằm tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm Agribank, VietinBank, BIDV, Vietcombank, Oceanbank, CB Bank, GPBank. Tổng tài sản của các nhà băng này tăng nhẹ 1,84% đạt trên 4,6 triệu tỉ đồng. Trong khi đó, tổng tài sản của nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần tăng 4,17%, đạt gần 4,2 triệu tỉ đồng. Tổng tài sản của các ngân hàng liên doanh, nước ngoài tăng 5,73%, chính thức vượt 1 triệu tỉ đồng.

Ở nhóm chỉ tiêu về vốn, tính đến ngày 31-5-2018, vốn tự có của khối ngân hàng thương mại nhà nước có số tuyệt đối là 252.472 tỉ đồng, giảm 0,86% so với cuối năm 2017. Khối ngân hàng thương mại cổ phần có tổng vốn tự có là 315.340 tỉ đồng, tăng 8,5% so với cuối năm ngoái.

Lý giải về tốc độ tăng trưởng âm 0,86% của vốn tự có tại khối ngân hàng thương mại, NHNN cho biết: do khối ngân hàng thương mại hiện nay ngoài Agribank, VietinBank, Vietcombank, BIDV gần đây còn “gánh” thêm ba ngân hàng “0 đồng” là CB, GPBank, Oceanbank. Chưa kể một số ngân hàng trên trong các năm trước phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 nên theo Thông tư 36 sửa đổi, mỗi năm trừ 20% phần trái phiếu dài hạn đã phát hành do TCTD khác nắm giữ, dẫn đến tốc độ tăng trưởng vốn tự có âm.

Với việc phải chia cổ tức bằng tiền mặt, các ngân hàng lớn đang đối mặt với khó khăn để duy trì và nâng cao vốn chủ sở hữu của mình. Đơn cử như tại Vietcombank, với 8.849 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế năm 2017, sau khi ngân hàng trích lập các quỹ, trả thù lao… tương ứng 2/3 lợi nhuận được phép phân phối, 2.878 tỉ đồng còn lại được chia cổ tức bằng tiền mặt theo tỷ lệ 8% cho cổ đông.

Với việc Nhà nước sở hữu 77,11% vốn điều lệ, Vietcombank sẽ chuyển về ngân sách nhà nước khoảng 2.219 tỉ đồng trong thời gian tới. Tương tự, trong năm 2017, BIDV đạt lợi nhuận sau thuế 6.946 tỉ đồng, ngân hàng cũng đã trình đại hội đồng cổ đông phương án chia cổ tức bằng tiền mặt tỷ lệ 7%, tương đương số tiền dự chi là 2.393 tỉ đồng. Nhà nước đang sở hữu phần lớn cổ phần tại BIDV với tỷ lệ 95,28% vốn. Như vậy, BIDV sẽ chuyển về ngân sách nhà nước khoảng 2.280 tỉ đồng cổ tức.

Để nâng cao năng lực tài chính, ngoài việc giữ lại cổ tức, các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước còn có thể tăng vốn thông qua hình thức như bán cổ phần cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc kêu gọi vốn trong nước thời điểm hiện nay là vô cùng khó khăn, do đó các ngân hàng đang “trông” vào vốn ngoại. Cụ thể, BIDV đang trong quá trình thương thảo với Ngân hàng Hana KEB trong thương vụ trở thành nhà đầu tư chiến lược hay Vietcombank đang tìm kiếm nhà đầu tư nước ngoài làm cổ đông lớn khi “room” còn lại cho khối ngoại vẫn còn khá nhiều.

Chưa thể yên tâm với CAR

Cũng theo báo cáo thống kê tháng 5-2018 của NHNN, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của khối ngân hàng thương mại nhà nước là 9,39%, trong khi của khối ngân hàng thương mại cổ phần là 11,34%.

Đáng chú ý, Thông tư 19 ban hành vào ngày 28-12-2017 đã có một số sửa đổi, bổ sung cấu phần và cách xác định cấu phần vốn tự có, hệ số rủi ro của một số khoản phải đòi khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR). Theo đó, cấu phần tính vốn cấp 2 được quy định bằng việc loại trừ phần nợ thứ cấp do TCTD khác phát hành. Biện pháp này theo thị trường đánh giá sẽ khiến các TCTD không thể mua công cụ nợ do TCTD khác phát hành, nhằm làm tăng vốn ảo cho những bên liên quan tham gia mua bán. Những trường hợp tăng vốn cấp 2 theo cách này nay không được tính vào sẽ cần nhanh chóng bổ sung thêm để đảm bảo hệ số CAR tối thiểu 9%.

Cùng với đó, hệ số rủi ro khi tính CAR đối với một số khoản mục cũng có thay đổi như các khoản phải đòi TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác từ 20% lên 50%, để đảm bảo tính minh bạch trong việc cho vay lẫn nhau giữa các TCTD hay tài sản có là trái phiếu do Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp phát hành có hệ số rủi ro 20%, thay vì 0% trước đó.

Do những thay đổi trên, nếu không tăng được vốn, hệ số CAR của các ngân hàng thương mại nhà nước sẽ khó cải thiện, qua đó không thể tăng tổng tài sản có rủi ro, khó tăng trưởng tín dụng và khó giữ vững thị phần. Chưa kể khi chính thức áp dụng chuẩn mực Basel II, các ngân hàng sẽ phải hạch toán đúng chi phí, nợ xấu và những khoản vay rủi ro sẽ “ăn” vào vốn tự có của khối NHTM nhà nước. Trong khi đó, bốn ngân hàng có vốn nhà nước chiếm tỷ trọng khoảng 1/2 tổng tài sản và 40% hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng nên nếu nhóm này không tăng được vốn sẽ ảnh hưởng mạnh đến cả hệ thống.

Một giải pháp được đưa ra là Nhà nước nên nhanh chóng thoái vốn khỏi các NHTM có vốn nhà nước để vốn tư nhân và nước ngoài có thể đổ vào các ngân hàng chủ lực này. Cụ thể, Nhà nước vẫn có thể giữ tỷ lệ chi phối tại nhóm này với mức tối thiểu là 51%, còn lại bán ra thị trường để có thêm vốn. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính và NHNN cũng nên xem xét để cho các nhóm ngân hàng này giữ lại lợi nhuận (thay vì chia cổ tức bằng tiền mặt) nhằm tăng vốn.

Bạn cũng có thể thích