Khi gió chướng thổi…

Khi gió chướng về, mưa dần ngớt hẳn, miền Tây Nam bộ bắt đầu chuyển sang mùa nắng. Lúa cũng đã bắt đầu ngậm sữa, oằn bông, trĩu hạt.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực Nam của Tổ quốc. Vùng đất này còn được gọi là vùng Đồng bằng sông Mê Kông hay miền Tây Nam bộ hoặc nói ngắn gọn là miền Tây thì người bình dân cũng có thể hiểu được.

Khi gió chướng thổi…

Về hành chính, miền Tây Nam bộ gồm có 12 tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, và một thành phố trực thuộc Trung ương là Cần Thơ. Về địa hình, miền Tây Nam Bộ nổi tiếng với nhiều kênh rạch chằng chịt, sông ngòi dày đặc.

Nguồn nước dẫn chủ yếu cho các sông ngòi ở đây là từ sông Cửu Long, tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. Một số ngọn núi thấp xuất hiện ở vùng Thất Sơn (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) tạo nên một số hang động,…

Vùng duyên hải nhiều bãi bồi đang tiến dần ra biển, rừng ngập mặn chủ yếu là bần, đước, sú, vẹt, mắm, tràm mọc hoang tạo thành những thảm thực vật xanh thẳm. Xa khơi là một số đảo trải dài từ Tiền Giang bọc qua Cà Mau vòng lên Kiên Giang,… Trong đó, Phú Quốc là đảo có diện tích lớn nhất nước ta.

Sự biến đổi của đất trời

Đây là vùng đất mưa thuận gió hòa, hiếm khi xảy ra tình trạng thiên tai lớn như giông bão, hạn hán. Một năm thường có hai mùa. Theo Âm lịch mùa mưa bắt đầu vào đầu tháng 5, kéo dài cho đến nửa đầu tháng 10. Kinh nghiệm về thời tiết, dân gian còn để lại qua câu ca:

Ông tha bà không tha

Đánh cho một trận mùng Ba tháng Mười

Qua ngày ấy, coi như mùa nắng đã bắt đầu.

Thời khắc giao giữa hai mùa mưa – nắng xuất hiện những cơn gió chướng nhè nhẹ thổi. Theo thuật ngữ chuyên ngành địa lý học thì đây là gió đông bắc hay gió tín phong nhưng trong dân gian đã bao đời nay người ta quen gọi là gió chướng.

Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên giải thích rằng: Gió chướng là gió từ phía tây thổi lại, trái với quy luật thông thường của gió biển ở phía nam vịnh Bắc bộ.

Trong dân gian miền Tây Nam bộ, việc giải thích hiện tượng gió chướng không tương đồng với tài liệu mà chúng tôi vừa dẫn.

Nhiều bậc cao niên giải thích rằng tên gọi gió chướng là bắt nguồn từ hướng thổi đã thay đổi của nó. Bởi trước đó, ở vùng này gió thổi theo hướng tây nam và mang lại nhiều cơn mưa mùa tầm tả. Bây giờ, gió chướng thổi báo hiệu mùa mưa dần chấm dứt. Chướng là trái với lẽ thông thường, gây ra sự khác biệt. Gió thổi chướng đời là vậy!

Gắn liền với những cơn gió hiu hiu thổi vào sáng sớm là cái lành lạnh đặc trưng khi trời đất giao mùa. Hơn thế, gió chướng còn gắn liền với những nét sinh hoạt thú vị khác của người miền quê miền Tây Nam bộ.

Nghe gió chướng hiu hiu đi làm hầm bắt cá

Khi gió chướng thổi mạnh, mưa dần ngớt hẳn, miền Tây Nam bộ bắt đầu chuyển sang mùa nắng. Lúa cũng đã bắt đầu ngậm sữa, oằn bông, trĩu hạt. Nước trên ruộng bắt đầu cạn nhanh do nắng và gió, do chảy theo các lỗ mội xuống sông, rạch, ao đìa. Theo đó, cá cũng bắt đầu quay trở lại sông rạch để sinh sống qua mùa khô.

Thường thường, cá di chuyển theo một con đường mòn trũng thấp, có chút nước lấp xấp, hoặc có khi chúng lóc đi ngay trên cạn. “Lóc” nghĩa là con cá uốn công thân mình qua phải, qua trái thật nhanh, rồi dùng đầu và đuôi đập xuống đất để lấy trớn và trườn tới. Có lẽ cá lóc là loài cá “lóc” mau lẹ và giỏi nhứt nên mới có tên như vậy. Cá lóc chẳng những lóc trên mặt đất mà còn có thể nhảy qua một chướng ngại vật như là một bờ đất, một bờ mẫu. Kế cá lóc là cá rô, cá trê. Hai loại cá này cũng là bậc thầy về chuyện di chuyển như vậy.

Lợi dụng thói quen đó, người dân quê cũng bắt đầu vào vụ đào hầm bắt cá.

Dựa theo kinh nghiệm dân gian, người ta dựa theo các bờ mẫu ruộng, chọn vị trí mà cá có thể lóc, lội xuống ao đìa để đào hầm.

Có được chỗ thuận lợi, xế chiều người ta vác dá đi đào hầm. Hầm có thể đào theo hình chữ nhật rộng chừng 5-7 tấc, ngang chừng 3-4 tấc, hoặc khoét một lỗ tròn đường kính cỡ 4-5 tấc, có khi người ta chôn xuống đó cả khạp, hũ sành nhỏ. Xung quanh miệng hầm phải ngụy trang sình, bùn hay các dề cỏ giống như môi trường xung quanh để cá không phát hiện ra “bẫy” đang chờ chúng.

Khi gió chướng thổi…
Làm hầm bắt cá

Khuya, sương xuống, cá cũng bắt đầu tìm đường đi, nghe mùi sình và hơi nước chúng sẽ hướng đến… và lọt vô hầm. Thành hầm cao nên chúng khó lòng phóng thoát khỏi. Con này lọt vô hầm quậy động, con khác nghe tiếng “rọt rẹt” lại tìm đến và cũng… lọt hầm. Chừng nửa đêm ngủ giật mình thức dậy, người ta đốt đèn đi thăm hầm. Nhiều khi quên thì để tới sáng cũng được. Có điều cá vô nhiều, có những con lớn chúng có thể nhảy thoát và tìm đường ra mương vũng gần đó.

Bắt cá xong, vét lại miệng hầm, nếu có nước vô thì tát cạn rồi chờ cho cá nhảy tiếp,… Một hầm có thể bất cá tới năm ba ngày như chơi!

Một nét đẹp văn hóa thời tự túc tự cấp còn lưu lại là người ta chỉ đi thăm hầm của mình, ít ai đến hầm người khác bắt trộm làm gì. Nhiều khi thấy hầm của người hàng xóm đào do non kinh nghiệm nên cá không nhảy, người được nhiều còn đem cho mấy con ăn lấy thảo nữa!

Khi gió chướng thổi…
Làm hầm bắt cá

Có lẽ những con cá lóc, cá rô vừa ăn no nhụy lúa nên chúng vừa mập, vừa béo. Bắt con cá lóc nhảy đem nướng trui rồi ngắt miếng lá chuối để lên, tách đôi con cá ra, thịt trắng phau như bông bưởi, khói nóng bốc lên thơm phức, kèm với ít đọt rau rừng hái cạnh mé vườn, bờ ruộng, chấm muối ớt hoặc nước mắm chanh ớt, ăn không có gì ngon, mà lại tinh khiết cho bằng. Mùi bùn của ruộng cạn dường như đã thấm vào da thịt chúng, nên cá nhảy hầm nướng trui vừa ngọt vừa đậm đà hương vị đặc trưng miền quê, ai đã từng thưởng thức thì thật khó lòng quên được.

Tiếc là ngày nay, vì thâm canh tăng vụ, quanh năm nước ngập đồng, hết vụ hè-thu, người ta làm ngay vụ đông-xuân, không còn cảnh làm mỗi năm một vụ lúa mùa như ngày trước, nên nét sinh hoạt văn hóa đào hầm chờ cá nhảy cũng đã dần lùi vào dĩ vãng.

Gió chướng về… bông so đũa nở

So đũa là loại cây mọc hoang khắp các vườn tạp, mé sông, bờ ruộng ở Đồng bằng Tây Nam bộ.

So đũa thân cao và thẳng, trái dài thon thả, đều đặn giống như những chiếc đũa xếp song song, từng cặp treo lủng lẳng trên cành. Có lẽ từ hình ảnh này mà dân gian gọi tên loài cây này như thế.

Khi gió chướng thổi…
Cây so đũa

Khi những cơn mưa cuối mùa vừa dứt, những cơn gió chướng se lạnh ùa về cũng là lúc so đũa đua nhau nở rộ khắp nơi. Những chùm bông trắng, xanh xanh,… rung rinh trong gió, e ấp, dịu dàng. Lúc nước rong, mặt sông mênh mông, nhẹ buông mái chèo lặng lẽ cập sát mé, vói tay hái từng chùm so đũa mỏng manh thơm ngát, cảm giác mới an lành làm sao.

So đũa bông trắng nhụy vàng,

Thò tay anh hái cho nàng nấu canh.

So đũa ngon nhất nên hái vào buổi sớm mai, khi từng chùm bông còn đọng hơi sương, nở òa trong ánh nắng mới lên, tinh khiết và trong trẻo. So đũa hái về nhặt bỏ cuống và chót nhụy đắng, rửa nhẹ trong nước để tránh bầm dập mất ngon.

Khi gió chướng thổi…

Bông so đũa nấu canh chua cá rô đồng thì dân dã mà đậm đà biết bao. Cá rô có màu xanh từ xám đến nhạt, nắp mang cá có hình răng cưa, rất khỏe, chúng sống khắp sông rạch, ao đìa, lung bàu, thửa ruộng… ở miệt đất này.

Không biết có phải do mối lương duyên hay không mà thời điểm bông so đũa nở trắng cũng là lúc cá rô đồng béo nhất, ngon nhất, bởi chúng ăn nhụy lúa trên những cánh đồng cò bay thẳng cánh nơi này.

Khi gió chướng thổi…
Bông so đũa

Để nấu nồi canh chua, trước hết người ta bắt cá rô đồng đem về làm sạch để ráo. Nấu nước sôi, cho cơm mẻ vào, lược lấy nước chua (có người không nấu cơm mẻ mà nấu bằng me, bần,…, nhưng tất cả đều được lược bỏ cái chỉ lấy nước). Nước sôi lại thì thả cá vào. Nấu nhỏ lửa để cá không bị nát, khi nước sôi lần nữa thì cho bông so đũa vào, nêm rau tần dày lá, hoặc ngò gai, ít lát ớt, nêm nếm rồi nhắc xuống ngay, để lâu bông so đũa rục sẽ mất ngon. Người miền Tây Nam bộ nổi tiếng với chuyện ăn “ngọt” hơn các vùng miền khác. Món canh chua cũng vậy, người ta chỉ nêm đường, muối, ít người xài đến bột ngọt.

Ăn canh chua cá rô bông so đũa thường là nước mắm nguyên chất thả vô mấy trái ớt hiểm chứ không pha chế gì thêm. Không biết món ăn này có giá trị dinh dưỡng cho phụ nữ đến đâu, mà dân gian cứ truyền tai câu hát:

Canh chua nấu cá rô đồng,

Nửa đêm thức giấc nhớ chồng đi xa.

Cũng có khi người ta nấu canh chua bông so đũa với cá lóc, cá trê, tép bạc hay cua biển,… đều ngon lành như vậy!

Khi gió chướng thổi…

Bông so đũa còn được ăn kèm với các loại rau dại khác như điên điển, kèo nèo, rau nhút, cọng bông súng,… để chấm mắm kho, cá kho thì cũng hết ý. Vị đăng đắng của bông so đũa góp phần không nhỏ để quyến rũ người thưởng thức:

So đũa bông trắng đài xanh,

Hái về chấm mắm ngon lành bữa cơm.

Với trí tuệ tuyệt vời, người bình dân đã tận dụng loài cây mọc hoang như so đũa để phục vụ cho đời sống của mình. Hơn thế nó đã trở thành nét văn hóa độc đáo của người miệt đồng mỗi khi gió chướng thổi về, quê mùa mà đằm thắm biết bao.

Bao mùa so đũa trổ bông

Hỏi ai so được nỗi mong nhớ này?

Gió chướng thổi vào lời ru, điệu ngâm

Cơn gió chướng thổi dường như đã gắn liền với cảnh ngộ của người nông dân chân lấm tay bùn ngày trước. Nó đã đi vào lời ru một cách tự nhiên như hiện tượng tự nhiên mà trời đất đã tạo ra vậy:

Gió chướng lạnh lùng, mưa rung lá hẹ

Cảm thương nàng có mẹ không cha.

Một hoàn cảnh, một sự cảm thông, một lời ngỏ lời mà chàng trai nào đó dành cho cô gái nghe mà thắm thiết biết dường bao.

Chúng ta còn gặp một câu ngâm nga khác:

Gió chướng lao xao khúc sông nào, sóng nấy

Xuồng em bơi giữa dòng, anh thấy anh thương.

Nội dung là lời tỏ tình. Điều đáng nói ở đây là dường như có một ngẫu nhiên nào đó khi đi kèm với cụm từ gió chướng, tác giả dân gian thường kết hợp với một tù láy để diễn cảm xúc. Vì thế, giá trị biểu cảm của nó đã được mặc nhiên khẳng định. Người đọc, người ngâm dường như đã đồng cảm với nhân vật trữ tình của những câu ca có sự hiện diện của hiện tượng gió chướng!

Cũng ở cảm xúc bày tỏ trong tình yêu lứa đôi, dân gian mượn hình ảnh cơn gió chướng để nói đến tâm cảnh của người trong cuộc:

Đèn treo cột phướn, gió chướng thổi hao dầu

Anh có thương em thì chầm chậm, đừng buồn rầu ốm đau.

Khi gió chướng thổi…

Có thương yêu nhau da diết mới đau rầu đến mức ốm tương tư. Căn bệnh mà bao đôi trai gái yêu đương đã vương mang tự bao đời nay dường như vẫn chưa có thuốc nào trị được.

Gió chướng hiu hiu, chín chiều ruột thắt

Nhìn sao bên Bắc, nước mắt chảy bên Đông

Ai xui chi cho vợ vợ chồng chồng

Không biết đây với đó duyên hồng có xe?

Hôm nay và mãi ngàn đời sau, gió chướng vẫn thổi. Song có lẽ không gian văn hóa ở vùng đất mới đã dần thay đổi. Khi kinh tế thị trường đã dần thay cho kinh tế tự túc tự cấp, cùng sự tiến bộ của khoa học – công nghệ… đã khiến cho nhiều nét sinh hoạt văn hóa gắn liền với những cơn gió chướng thổi dịu nhẹ cũng đã bay đi ít nhiều.

Tửu Hoàng / Theo Kiến thức Ngày nay số 988

Comments
Loading...